|
Friday, 02 February 2007 10:12 |
Các ứng dụng truyền thông trong kinh doanh xử lý các dữ liệu nhằm đưa ra các thông tin cần thiết. Ví dụ việc xử lý đơn đặt hàng, đặt chỗ máy bay, kiểm soát tín dụng… đều là các chuyển giao (transaction) dữ liệu kinh doanh. Mỗi chuyển giao được định nghĩa là một đơn vị xử lý dữ liệu kinh doanh riêng biệt tạo nên một thực thể lô gíc trong ứng dụng. Đầu ra của quy trình xử lý chuyển giao dữ liệu, nếu cần thiết, sẽ được lưu trữ trong kho dữ liệu (data warehouse), và có thể được xử lý tiếp qua qúa trình xử lý phân tích dữ liệu trực tuyến phục vụ cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh.
Dữ liệu (data), nguyên gốc Latin có nghĩa là “that which is given”. Dữ liệu không tự nhiên mà có mà là kết quả của quá trình thu thập. Chẳng hạn trong các ngành khoa học, thu thập dữ liệu thường liên quan tới các kỹ thuật quan sát và ghi chép, là dạng sơ khai trước khi cho ra các kết quả khoa học. Thông tin là những dữ liệu đã được chuyển đổi thành dạng có nghĩa. Quá trình xác định mối quan hệ giữa các dữ liệu đòi hỏi các kiến thức cần thiết về khả năng nhận thức và nắm bắt chuỗi thông tin cũng như phương thức làm cho thông tin đó có khả năng đáp ứng một nhiệm vụ cụ thể. Trong quản lý, giá trị của thông tin có liên quan trực tiếp tới việc thông tin đó giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm xử lý chuyển giao dữ liệu trực tuyến: Các ứng dụng xử lý chuyển giao dữ liệu trực tuyến – OLTP (OnLine Transaction Processing) là những ứng dụng giúp user truy cập trực tiếp thông tin theo hình thức ứng dụng client/server. OLTP bao gồm một dãy lệnh: thu nhận (gathering) dữ liệu đầu vào, xử lý (processing) dữ liệu, và cập nhật (updating) dữ liệu cũ với dữ liệu mới được nhập và xử lý.
Mỗi một “điệp vụ”, ứng dụng OLTP chỉ xử lý một transaction. Ví dụ transaction đầu vào yêu cầu một bảng cân đối tài khoản, transaction sau sẽ cập nhật bản cân đối đó. User có thể truy cập trực tuyến vào hệ thống và dữ liệu. Trong một môi trường xử lý chuyển giao dữ liệu, nhiều user (chẳng hạn các nhân viên đặt vé máy bay hay các nhân viên ngân hàng tại quầy) xử lý lặp đi lặp lại các transaction, và yêu cầu phản hồi (response) nhanh chóng đối với mỗi transaction.
Trong khi dữ liệu đang được một transaction cập nhật, có thể có hoặc không một khoá ngăn không cho transaction khác truy cập dữ liệu. OLTP là phương thức hiệu quả khi các user muốn:
- Xử lý các dữ liệu đơn vô hạn định với số lượng và tần số không thể ước lượng.
- Truy cập tức thì vào dữ liệu đã được cập nhật, phản ánh các transaction trước đó.
- Thay đổi dữ liệu tức thì để phản ánh transaction vừa xử lý.
Các chức năng cơ bản của OLTP: cùng với khả năng truy cập và cập nhật các dữ liệu chia sẻ, các hệ thống OLTP còn hỗ trợ các user khả năng truy cập trực tuyến (online), khả năng truy cập tức thời (availability), khả năng phản hồi nhanh chóng (response), và tiết kiệm chi phí đối với từng transaction (low cost).
- Truy cập trực tuyến: để truy cập, user cần một thiết bị đầu cuối (terminal) hoặc một máy trạm (workstation) nối với hệ thống. Kết nối vật lý có thể thông qua mạng nội bộ LAN, mạng mở rộng WAN (bao gồm cả mạng nội thị MAN), hay internet. Kết nối lô gíc được cung cấp bởi hệ thống OLTP hoặc riêng lẻ, hoặc được liên kết với một phương thức truy cập truyền thông và trình điều khiển mạng.
- Truy cập tức thời: một hệ thống OLTP phải luôn sẵn sàng khi bất cứ một nhân viên nào của công ty có nhu cầu truy cập. Ngày nay, ngày càng có nhiều công ty đòi hỏi lich trình làm việc 24 giờ mỗi ngày, và thậm chí 7 ngày mỗi tuần. Khả năng truy cập tức thời có được thông qua chất lượng và công nghệ kết nối phần cứng, phần mềm, ứng dụng, và các thiết bị hay tiện ích tự động phục hồi (recover) từ bất cứ lỗi cấu tạo nào. Cùng với khả năng sửa lỗi, hệ thống OLTP cũng cần giảm thiểu ảnh hưởng của các hoạt động bất thường như nâng cấp phần cứng, thay đổi phần mềm, chuyển đổi công việc, lưu trữ dữ liệu, và tái cơ cấu tổ chức.
- Phản hồi nhanh chóng: các nhân viên sử dụng hệ thống OLTP liên tục như một phần của công việc hàng ngày. Vì thế thời gian phản hồi phải có độ trễ đủ ngắn để duy trì hiệu quả công việc của user tại các terminal. Một hệ thống OLTP có khả năng ưu tiên các transaction, cho phép thực hiện trước các transaction được chỉ định. Và như vậy được coi là có khả năng phản hồi nhanh chóng với các transaction được chỉ định và có khả năng phản hồi chậm hơn, nhưng hợp lý, đối với các transaction khác. Để duy trì độ trễ phản hồi hợp lý ngay cả trong những giờ cao điểm có nhiều yêu cầu truy cập nhất, hệ thống OLTP còn được trang bị một cơ chế sắp xếp tối ưu.
- Tiết kiệm chi phí: đại bộ phận các hệ thống OLTP được sử dụng cho các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp. Chi phí xử lý mỗi transaction vì thế được tính là một phần chi phí sản xuất kinh doanh, cũng như là một phần nhỏ của giá trị kinh doanh từ dữ liệu được xử lý chuyển giao. Chi phí cho từng transaction chiếm một tỷ lệ trong tổng chi phí cần thiết của hệ thống để thực hiện transaction. Như vậy, mỗi transaction phải được sắp xếp, xử lý, và kết thúc một cách có hiệu qủa. Mỗi một bước thực hiện phải được tối ưu hoá để có hiệu quả xuyên suốt quá trình OLTP.
Trịnh Minh Giang vietmanagement.com | 26.02.2004
|